Between Estimator — Ước lượng giữa các đơn vị
Between Estimator chạy hồi quy trên trung bình theo đơn vị của các biến — khai thác biến thiên giữa các đơn vị (between variation) thay vì biến thiên theo thời gian (within) như Fixed Effects. Nó trả lời câu hỏi "đơn vị có trung bình cao hơn thì trung bình ra sao".
Khi nào dùng
Dùng Between khi quan tâm khác biệt dài hạn giữa các đơn vị (vd so sánh các quốc gia/doanh nghiệp theo mức trung bình). RE thực chất là trung bình có trọng số của Between và Within.
Đặc tả mô hình
Ước lượng OLS trên dữ liệu đã lấy trung bình theo đơn vị.
Thực hiện trong EcoLab
- Module Mô hình hóa → họ Dữ liệu bảng tuyến tính → Between.
- Khai báo entity/time, , .
- Chạy; đối chiếu với FE (within) để phân tích nguồn biến thiên; xuất mã tái lập.
Minh họa mã tái lập
- Stata
- R
- Python
* === Between Estimator (Stata) ===
xtset id year
* Ước lượng Between
xtreg y x1 x2, be
# === Between Estimator (R — plm) ===
library(plm)
pdata <- pdata.frame(df, index = c("id", "year"))
# Between estimator
model_be <- plm(y ~ x1 + x2, data = pdata, model = "between")
summary(model_be)
from linearmodels.panel import BetweenOLS
import statsmodels.api as sm
# === Between Estimator (Python — linearmodels) ===
df = df.set_index(['id', 'year'])
y = df['y']
X = sm.add_constant(df[['x1', 'x2']])
model = BetweenOLS(y, X).fit()
print(model.summary)
Hạn chế
- Bỏ qua biến thiên theo thời gian; không kiểm soát hiệu ứng cá thể như FE.
- Mất thông tin động.